Tại Sao Các Quốc Gia Nghèo Không In Thêm Tiền Để Giàu Hơn?

11 Tháng Mười Một 20197:45 SA(Xem: 23517)
Tại Sao Các Quốc Gia Nghèo Không In Thêm Tiền Để Giàu Hơn?
Tại Sao Các Quốc Gia Nghèo Không In Thêm Tiền Để Giàu Hơn

Curious Kids (Những Đứa Trẻ Tò Mò) là một series hỏi đáp dành cho trẻ em ở mọi lứa tuổi trên trang The Conversation. Những đứa trẻ sẽ đặt câu hỏi trên trang The Conversation, và trang sẽ đi hỏi các chuyên gia để giải đáp các thắc mắc.

Trong số các câu hỏi được đặt ra, có một câu hỏi khá là thú vi từ cậu bé Clementine 12 tuổi đến từ London: “Tại sao các nước nghèo không in thêm tiền để trở nên giàu hơn?”.

In thêm tiền có thể gây ra điều gì?

Khi một quốc gia muốn in thêm tiền với suy nghĩ sẽ làm đất nước giàu hơn, điều này hiếm khi có tác dụng. Vì nếu mọi người có nhiều tiền hơn, giá cả hàng hóa cũng sẽ tăng lên. Và chúng ta sẽ phải bỏ ra càng ngày càng nhiều tiền để mua cùng một lượng hàng hóa như nhau. Điều này đã xảy ra với Zimbabwe ở Châu Phi và Venezuela ở Nam Mỹ, 2 quốc gia đều in thêm tiền để cố làm cho nền kinh tế phát triển.

Khi các máy in tiền tăng tốc hoạt động, thì giá cả tăng nhanh hơn, cho đến khi các quốc gia trải một thứ gọi là “siêu lạm phát”, đó là khi giá cả tăng một lượng khủng khiếp trong một năm.

Khi Zimbabwe bị siêu lạm phát, năm 2008, giá đã tăng tới 231,000,000% trong một năm. Hãy tưởng tượng một viên kẹo có giá một đô Zimbabwe trước khi lạm phát sẽ có giá 231 triệu đô Zimbabwe một năm sau đó. Lúc bấy giờ, số lượng giấy in ra số tiền có thể còn giá trị hơn số tiền ghi trên đó.

Có thể in thêm tiền để giàu hơn, NHƯNG…

Để giàu hơn, một quốc gia phải sản xuất và bán nhiều thứ hơn, cả hàng hóa và dịch vụ. Và việc in thêm tiền sẽ an toàn hơn, vì người dân có thể dùng tiền đó để mua thêm lượng hàng hóa tăng thêm. Nếu một quốc gia chỉ in thêm tiền mà không gia tăng sản xuất, giá cả sẽ tăng lên. Ví dụ, một bộ đồ chơi Star Wars bản đặc biệt được sản xuất vào năm 1970, hiện nay không còn ai sản xuất nữa. Vì vậy dù có nhiều tiền hơn cũng không có nghĩa là sẽ có nhiều người hơn mua được nó. Người bán sẽ tiếp tục tăng giá.

Hiện chỉ có một quốc gia có thể giàu hơn bằng cách in thêm tiền, đó là Mỹ. Đó là bởi vì những thứ giá trị nhất mà các quốc gia trên thế giới mua và bán với nhau, bao gồm vàng và dầu mỏ đều được định giá bằng đồng USD. Vì vậy, nếu Mỹ muốn mua nhiều hơn, họ thật sự có thể in thêm tiền. Dù vậy, nếu in quá nhiều, hàng hóa tính bằng USD vẫn sẽ tăng giá.

Dĩ nhiên, các nước nghèo nếu muốn in thêm tiền, chỉ có thể in đồng tiền riêng của họ chứ không thể in đồng USD. Và nếu họ in quá nhiều, giá sẽ tăng rất nhanh và người dân sẽ không dùng đồng tiền đó nữa. Thay vào đó, mọi người sẽ trao đổi hàng hóa với nhau, hoặc yêu cầu được trả bằng USD thay vì đồng tiền quốc gia. Đó là những gì đã xảy ra ở Zimbabwe và Venezuela và nhiều quốc gia khác với tình trạng siêu lạm phát.

Venezuela đã cố gắng bảo vệ người dân khỏi siêu lạm phát bằng cách thông qua các đạo luật giữ giá đối với hàng hóa thiết yếu như thực phẩm và thuốc men. Tuy nhiên, vì không tăng giá nên các mặt hàng đã bị mua sạch khỏi các cửa hàng.

Nhưng không phải một quốc gia không bao giờ giàu hơn nếu in thêm tiền. Họ vẫn có thể giàu hơn, nếu quốc gia đó không có đủ tiền. Nếu không đủ tiền, doanh nghiệp không thể bán hàng hay trả công cho nhân viên. Người dân không thể vay tiền từ ngân hàng, vì ngân hàng cũng không có đủ tiền. Trong trường hợp này, in thêm tiền giúp người dân chi trả nhiều hơn, các công ty sản xuất nhiều hơn, có nhiều thứ để mua hơn và người dân cũng có thêm tiền để mua chúng.

Kinh tế học, môn khoa học ảm đạm

Năm 2008, khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra, các ngân hàng đã mất rất nhiều tiền và không thể chi trả cho khách hàng. May mắn là hầu hết quốc gia đều có ngân hàng trung ương để quản lý các ngân hàng khác, và họ đã in thêm tiền để giúp nền kinh tế vận hành trở lại.

Quá ít tiền làm cho giá cả giảm, điều này không tốt. Nhưng in quá nhiều tiền mà không có sự gia tăng sản xuất, làm giá cả tăng lên, điều này cũng tệ không kém. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi kinh tế học, môn học về tiền, thương mại và kinh doanh, thường được gọi là "môn khoa học ảm đạm".

53Vote
42Vote
33Vote
28Vote
14Vote
2.620
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
23 Tháng Tư 2019
Chi tiền trên nền tảng đám mây của Apple phản ánh quyết tâm của công ty trong việc cấp các dịch vụ trực tuyến như iCloud một cách nhanh chóng và đáng tin cậy, ngay cả khi phải phụ thuộc vào đối thủ để làm điều đó.
23 Tháng Tư 2019
Khoảng giữa tháng 04/2019, Cơ quan tình báo trung ương (CIA) đã cáo buộc Huawei về việc tập đoàn công nghệ đồng ý nhận tài trợ từ Ủy ban An ninh Quốc gia Trung ương (CNSC), Lực lượng Quân đội Giải phóng Nhân dân và một nhánh thứ 3 của Mạng lưới Tình báo Trung Quốc.
23 Tháng Tư 2019
Trong một tài liệu nộp cho Cơ quan an toàn giao thông đường cao tốc quốc gia Mỹ (National Highway Traffic Safety Administration), BMW đã giải thích về một lỗi có thể khiến cho hơi ẩm xâm nhập vào bộ làm nóng cho van thông khí các-te (Positive Crankcase Ventilation) trên xe, khiến cho các thành phần làm từ nhựa có thể bị hao mòn và xuống cấp theo thời gian. Trong tình huống xấu nhất, hỏng hóc sau đó có thể dẫn đến hiện tượng chập điện dẫn đến cháy nổ ngay khi động cơ của xe không hoạt động.
22 Tháng Tư 2019
Khoảng giữa tháng 04/2019, theo thông tin từ giới truyền thông, Huaxintong Semiconductor Technologies (HXT), liên doanh giữa nhà sản xuất chip của Mỹ Qualcomm và chính quyền tỉnh Quý Châu Trung Quốc vào năm 2016 để tạo nên các chip máy chủ, sẽ dừng hoạt động vào cuối tháng 04/2019.
22 Tháng Tư 2019
Khoảng giữa tháng 04/2019, trong bài phát biểu tại Đại học Stanford, Chủ tịch Microsoft Brad Smith đã chia sẻ một số tin tức khá bất ngờ về các hoạt động nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng trên thế giới của Microsoft. Theo đó, ông Smith chia sẻ rằng thời gian qua, Microsoft đã từ chối bán công nghệ nhận dạng gương mặt của hãng cho một cơ quan thực thi pháp luật ở California và một thủ đô giấu tên vì những lo ngại về nhân quyền.
22 Tháng Tư 2019
Sự khác biệt giữa các hệ điều hành thời gian thực (Real-Time OS - RTOS) và các nền tảng truyền thống khác nằm ở khả năng dự đoán trước của chúng. Với một RTOS, nhà phát triển có thể đảm bảo rằng, việc gián đoạn xử lý hay chuyển từ tiến trình này sang tiến trình khác sẽ được thực hiện trong một thời gian biết trước. Điều này sẽ đảm bảo mạnh mẽ cho các ứng dụng rằng chúng có thể đáp ứng kịp thời gian để các sự kiện phần cứng, các chương trình timer hoặc các chương trình khác có thể sử dụng CPU nếu muốn.