Apple Và Google: Chung Hướng Nhưng Khác Đường

12 Tháng Sáu 20182:21 SA(Xem: 14198)
Apple Và Google: Chung Hướng Nhưng Khác Đường
Apple-Và-Google--Chung-Hướng-Nhưng-Khác-Đường

Sự kiện WWDC 2018 đánh dấu sự kết thúc cho mùa event dành cho các nhà phát triển ứng dụng, mang tới cho người dùng cuối hàng loạt những bản cập nhật với những tính năng mới hấp dẫn, và bày tỏ rõ hướng đi tương lai cho những thiết bị mọi người vẫn sử dụng hàng ngày.

 

Tuy nhiên, năm 2018 có một điểm rất đặc biệt: những công bố của Google và Apple không thực sự quá khác nhau - cho thấy hai công ty lớn đang đi cùng một hướng cho các sản phẩm của mình trong năm 2018.

 

Điểm giống nhau dễ thấy nhất khi theo dõi WWDC 2018, có lẽ là việc cả Google lẫn Apple đều có rất nhiều thứ để công bố. Nếu điều này là chuyện thường thấy ở Google I/O, thì có lẽ đây là điều khiến cho WWDC 2018 có chút khác biệt. Thông thường, hàng năm, những gì Apple công bố chỉ tập trung chính vào một số ít nền tảng, nhưng WWDC 2018 lại dàn trải hơn rất nhiều.

 

Ngoài ra, một điểm giống nhau nữa giữa Apple và Google là ở một số tính năng mới được công bố. Cả hai công ty đều ra mắt công cụ cho phép người dùng theo dõi xem mình dùng điện thoại bao lâu. Hay Apple đã học theo Google khi nhóm thông báo lại cũng như cho phép tắt thông báo ứng dụng một cách nhanh chóng mà không cần phải vào trong phần cài đặt.

 

Cả Apple và Google cũng đều mang đến phiên bản mới của nền tảng phát triển thực tế tăng cường, cho phép nhiều thiết bị có thể cùng "nhìn thấy" một vật thể số trong không gian. Giải pháp của Google là phát triển đa nền tảng và dựa vào các thiết bị đám mây làm trụ cột, còn phía Apple muốn tạo ra một công cụ có thể hoạt động trong cả những mạng lưới nội bộ, với các thiết bị tự "giao tiếp" với nhau mà không cần đến sự hỗ trợ của đám mây.

 

Phiên bản mới của Apple Photo trên iOS vay mượn khá nhiều từ Google Photo, như mục "For You" tự động chỉnh hiệu ứng cho những bức ảnh của người dùng, hay công cụ tìm kiếm tối ưu dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Cùng với đó là tính năng gợi ý chia sẻ, cho phép ứng dụng nhận diện người trong ảnh và đưa ra gợi ý chia sẻ album ảnh tới người đó.

 

Hiển nhiên là Apple cũng có những lựa chọn riêng, giữ ảnh mã hóa giữa hai người dùng với nhau, và khẳng định chắc chắn rằng AI sẽ hoạt động trên thiết bị người dùng chứ không dựa vào nền tảng đám mây. Nhưng điều mang hai công ty lớn tới gần nhau hơn là việc cả hai đều muốn đưa đến cho người dùng một tương lai kết hợp giữa AI, các thiết bị di động, cũng như máy tính để bàn. Nói cách khác, rõ ràng cả Apple và Google đều đang có cùng một hướng đi.

 

Ví dụ đầu tiên là Shortcuts trên iOS và Actions / Slices trên Android P. Cả hai tính năng đều là phương án để trợ lý ảo có thể giao tiếp một cách tốt hơn với ứng dụng. Ý tưởng của tính năng mới là cho phép người dùng mang những thao tác họ thường làm với ứng dụng và biến chúng thành lệnh trên thanh tìm kiếm và trên trợ lý thông minh.

 

Với Siri Shortcuts, Apple đã tận dụng tốt ứng dụng Workflow để tạo thêm chức năng cho Siri, mà không cần phải thu thập dữ liệu giống như cách mà Google Assistant đã làm. Đây có lẽ là một lựa chọn thông minh của Apple, đặc biệt trong bối cảnh "thu thập dữ liệu" đang trở thành một từ khóa nhạy cảm.

 

Cùng một mục tiêu, nhưng cách mà Google và Apple thực hiện lại thể hiện sự khác biệt trong triết lý hoạt động của riêng mình. Với Actions / Slices trên Android P, các nhà phát triển đơn thuần có thể tạo ra một loạt các lệnh và tính năng mới cho Google Assistant, và việc của người dùng chỉ là yêu cầu trợ lý ảo thực hiện cho mình. Thay vì tự tinh chỉnh và cái đặt, Google muốn người dùng tin vào khả năng công ty có thể dự đoán được nhu cầu của người dùng. Còn đối với Shortcuts, người dùng sẽ phải tự thực hiện các thao tác điều chỉnh và cài đặt. Người dùng sẽ phải tìm kiếm nút "Add to Siri", sau đó tự đặt từ khóa, thậm chí nếu có khả năng, việc liên kết vài từ khóa với nhau để thực hiện một chuỗi hoạt động cũng không phải là vấn đề gì khó khăn. Siri cũng có thể sử dụng Machine Learning để tạo ra các Shortcut gợi ý như Google Assistant có thể làm, nhưng dường như Apple vẫn muốn người dùng tự nắm quyền chủ động hơn.

 

Cả Google và Apple cũng hướng đến việc đưa các ứng dụng trên di động lên máy tính, nhưng con đường của 2 công ty là khác nhau. Google đã đưa những ứng dụng Android lên Chrome OS được một thời gian khá lâu. Những ứng dụng không cần phải được viết lại đẻ phù hợp với nền tảng máy tính, mà chạy trực tiếp trên Chromebook như trên điện thoại Android. Nên những ứng dụng nhìn có phần không khớp so với hệ điều hành Chrome OS. Google cho phép ứng dụng hiện thông báo, nhưng người dùng vẫn chưa thể thay đổi kích cỡ cửa sổ ứng dụng Android. Về cơ bản, hướng đi mà Google chọn lựa là đưa bản dùng thử cho người dùng, nhận ý kiến phản hồi, rồi tiếp tục điều chỉnh. Trong khi đó, Apple đang muốn tìm cách để những ứng dụng iOS trên Mac có thể thực sự trở thành ứng dụng Mac – đến mức họ không muốn gọi chúng là ứng dụng iOS hay ứng dụng trên Mac nữa. Nhưng cách làm của Apple đương nhiên vẫn là thử nghiệm thật kỹ những công nghệ, những thay đổi mới, rồi mới phát hành ra thị trường.

 

Dù vậy, mục tiêu của cả hai công ty cũng chỉ có một, là hỗ trợ những người sử dụng laptop những tiện ích đến từ các thiết bị di động, vì laptop cũng chính là một loại thiết bị di động của người dùng. Đây cũng là điều mà Microsoft rất muốn làm với Windows, nhưng lại gặp khó bởi không sở hữu tài nguyên ứng dụng khổng lồ như Apple hay Google.

 

Tuy nhiên, dù có những điểm giống nhau, hay có cùng đi chung hướng, vẫn luôn có một điểm khác biệt rất lớn giữa Google và Apple – đó là Apple chắc chắn sẽ làm tốt hơn Google trong việc đưa những cải tiến mới đến với người dùng. Khi iOS 12 chính thức xuất hiện, với việc hệ điều hành gần như bao trọn tất cả các thiết bị của Apple từ cũ đến mới, chắc chắn sẽ có hàng trăm triệu thiết bị có khả năng tiếp cận những điều mới công ty đã tạo ra. Trong khi đối với Android P, sẽ chỉ có một số lượng nhỏ thiết bị Android trên thị trường nhận được bản cập nhật hệ điều hành mới. Độ bao phủ sẽ vẫn còn là ưu thế cực mạnh của Apple trong tương lai.

522Vote
43Vote
36Vote
25Vote
14Vote
3.940
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
07 Tháng Sáu 2018
Khoảng đầu tháng 06/2018, theo các báo cáo điều tra mới, có một lượng chất thải nguyên liệu lớn, các bộ phận sản xuất tại nhà máy của Tesla ở Sparks, Nevada cần phải được làm lại; hoả hoạn nghiêm trọng tại xưởng sơn; lực lượng lao động cồng kềnh, lớn gấp đôi so với số lượng cần thiết để lắp ráp xe của hãng tại Fremont, California.
07 Tháng Sáu 2018
Khoảng đầu tháng 06/2018, các cổ đông của Tesla đã bỏ phiếu thông qua quyết định giữ CEO Elon Musk trong vai trò chủ tịch hội đồng quản trị của công ty. Kết quả của cuộc bỏ phiếu đã được công bố trong đại hội cổ đông thường niên của Tesla, diễn ra tại Moutain View, California.
07 Tháng Sáu 2018
Khoảng đầu tháng 06/2018, các nhà vật lý học làm việc tại Máy Gia tốc Hạt Lớn – LHC đã có một phát hiện mới về hạt Higgs (còn được gọi là hạt của Chúa): ngoài việc phát hiện lại một lần nữa sự xuất hiện của nó, họ còn thấy thêm những chi tiết cho thấy nó tương tác với hạt cơ bản nặng nhất trong vật lý từng biết – hạt top quark, với khối lượng gấp 340,000 lần electron với điện tích +2/3.
07 Tháng Sáu 2018
Khoảng đầu tháng 06/2018, ngay sau khi Hội nghị thường niên WWDC 2018 kết thúc, giá cổ phiếu của Apple đã tăng mạnh 1.7% và đạt mức 193.42 USD/cổ phiếu, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2017. Giá trị vốn hóa thị trường của Apple cũng nhanh chóng vượt qua mốc 940 tỷ USD giúp công ty tiến gần với thành tích trở thành công ty có giá trị 1 nghìn tỷ USD đầu tiên trên thế giới.
07 Tháng Sáu 2018
Khoảng đầu tháng 06/2018, theo trang Reuters, Facebook thừa nhận có quan hệ đối tác và thỏa thuận chia sẻ dữ liệu với 4 công ty Trung Quốc, bao gồm nhà sản xuất máy tính Lenovo, các hãng điện thoại Huawei, OPPO và TCL Corp. Đây là 4 trong số 60 công ty sản xuất phần cứng trên toàn cầu, nhận được quyền truy cập vào dữ liệu người dùng Facebook để nâng cao trải nghiệm và sự tương thích của ứng dụng mạng xã hội.
06 Tháng Sáu 2018
Trong sự kiện WWDC 2018, Apple đã mang đến nhiều quyền kiểm soát hơn cho người dùng Safari, cho phép họ kiểm soát được những thông tin cá nhân chia sẻ online, và giới hạn được các tính năng theo dõi dữ liệu trên các website.