Công Nghệ Pin Mới Có Thể Biến Nước Mắt Và Mồ Hôi Thành Năng Lượng

15 Tháng Tám 20177:00 CH(Xem: 14960)
Công Nghệ Pin Mới Có Thể Biến Nước Mắt Và Mồ Hôi Thành Năng Lượng
Công Nghệ Pin Mới Có Thể Biến Nước Mắt Và Mồ Hôi Thành Năng Lượng
Trong quá trình phát triển pin có thể uốn dẻo để dùng cho các thiết bị đeo thông minh và giúp các thiết bị y tế trở nên an toàn hơn, các nhà khoa học đã chế tạo thành công một loại pin mới khá linh hoạt. Đặc biệt, pin mới sẽ có thể hoạt động nhờ nước mặn, bao gồm cả máu, mồ hôi hay nước mắt. Ngoài ra, pin mới cũng sẽ siêu nhẹ và có thể gấp đôi lại 100 lần.

Thế hệ pin mới cũng an toàn hơn so với các loại pin hiện nay, thay vì sử dụng các hoá chất độc hại làm dung môi, chúng vận hành nhờ vào những chất lỏng tương đối vô hại, chẳng hạn như nước biển hoặc các dung dịch thay thế được dùng trong những giải pháp bù nước IV (thông qua tĩnh mạch). Điều này khiến cho loại pin mới trở nên rất hữu ích nếu được dùng trong các thiết bị đeo hoặc thiết bị điện tử cấy ghép bên trong cơ thể người dùng. Trong trường hợp bị rò rỉ, những gì bên trong pin sẽ hoàn toàn vô hại đối với cơ thể.

Về nguyên lý, pin hoạt động bằng cách lưu trữ năng lượng điện tương tự như năng lượng hoá học. Pin có 3 thành phần chính, bao gồm 2 điện cực là kim loại có khả năng dẫn điện, 1 mang điện tích dương, 1 mang điện tích âm và 1 chất lỏng điện phân. Khi pin đang cung cấp năng lượng một thiết bị, các ion bắt đầu giải phóng electron, sau đó di chuyển từ điện cực này sang điện cực kia trong môi trường chất điện phân.


Theo nghiên cứu, trong rất nhiều dạng pin dẻo đang có mặt trên thị trường, chất điện phân thường là axit mạnh hoặc các chất độc hại. Đó là những hoá chất có tính ăn mòn cao, dễ bắt lửa và rất độc hại. Đó là lý do vì sao các nhà khoa học đã cố gắng tìm một giải pháp thay thế cho chất điện phân, giúp nó trở thành thứ gì đó ít gây hại hơn.

Loại pin mới được ra đời với 2 dạng hình thái khác nhau. Một dạng trông như một dải băng với 2 điện cực phẳng, ở giữa là chất điện phân. Một dạng khác có chứa 2 sợi nhỏ được tạo ra từ các ống nano carbon; 1 sợi sẽ nối những điểm có trên điện cực tích điện dương, sợi còn lại nối các điểm trên điện cực âm. 2 sợi sẽ hợp lại với nhau thành 1 ống nhỏ rỗng chứa đầy dung dịch điện phân.

Ý tưởng của thiết kế là để nó có thể được dệt vào những bộ quần áo hoặc thiết bị đeo thông minh. Các nhà khoa học đã thử nghiệm loại pin mới với một số dạng dung dịch điện phân khác nhau. Chất mang lại hiệu suất tốt nhất là natri sulphat, hợp chất thường được tìm thấy trong thuốc nhuận tràng. Ngoài ra, dung dịch nước muối pha loãng cũng có thể hoạt động. Hay các chất lỏng từ cơ thể như máu, mồ hôi hay nước mắt cũng sẽ có thể làm chất điện phân. Lợi thế này được kỳ vọng có thể dùng cho những thiết bị cấy ghép trong y tế.
513Vote
40Vote
30Vote
22Vote
11Vote
4.416
  • Từ khóa :
  • pin
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Tạo bài viết
07 Tháng Giêng 2019
Đây là một đêm bất thường để nhìn theo hướng Kim Ngưu. Chòm sao Kim Ngưu luôn nổi tiếng với việc lưu trữ hai cụm sao sáng – cụm Pleiades, có thể nhìn thấy bằng mắt thường, ở bên phải, và cụm sao mở Hyades, có thể nhìn thấy ở bên trái. Tuy nhiên, một đêm tháng 12/2018, vốn là đỉnh điểm của mưa sao băng Geminid, nên có thể thấy nhiều thiên thạch bắn xuyên qua chòm sao với những vệt song song.
07 Tháng Giêng 2019
Khoảng đầu tháng 01/2018, nhiều người dùng Internet chia sẻ một đoạn video quay lại mẫu màn hình gập của BOE do nhà mạng China Unicom chia sẻ trên mạng Weibo.
07 Tháng Giêng 2019
Khoảng đầu tháng 01/2019, HP ra mắt một số thiết bị đáng chú ý, trong đó có chiếc Chromebook đầu tiên được trang bị bộ vi xử lý của AMD.
07 Tháng Giêng 2019
Khoảng đầu tháng 01/2019, công ty bảo mật Wandera phát hiện 14 ứng dụng iPhone, tất cả đều liên quan tới game cổ điển, tự liên lạc theo lệnh điều khiển của máy chủ do Golduck kiểm soát.
07 Tháng Giêng 2019
Tính đến tháng 01/2019, căn bệnh Alzheimer vẫn chưa có thuốc chữa trị, nhưng nhiều loại thuốc đầy hứa hẹn đã xuất hiện trong vài năm qua, có thể giúp đẩy lùi quá trình phát triển bệnh. Dù vậy, những phương thức điều trị phải được áp dụng sớm trong quá trình tiến triển bệnh mới đạt được kết quả tốt. Vấn đề đã khiến các nhà nghiên cứu phải tìm ra những cách để chẩn đoán tình trạng bệnh sớm hơn.